Hội chứng hít nước ối phân su (MAS)

·        Hội chứng hít nước ối phân su : (MAS: Meconium Aspiration syndrome – le syndrome d’aspiration méconiale/Le syndrome d’inhalation méconiale)

Phân su: là cách gọi lứa phân đầu tiên mà trẻ thải ra trong vòng 24 giờ sau khi chào đời. Phân su thường có màu xanh đen, dính, không mùi. Phân su chứa nước (70 – 80%), các tế bào vảy, chất tiết từ đường tiêu hóa, lông tóc thai nhi, dịch ối, glycoproteins và muối mật.

Khoảng 8 – 15% số trẻ sơ sinh có nước ối nhuộm phân su, đa số là trẻ sinh đủ tháng hay già tháng, rất ít gặp ở trẻ sinh non. 5% số trẻ dịch ối có chứa phân su bị viêm phổi do hít ối phân su và 50% số này cần phải thở máy.

  1. 1.     Nguyên nhân, yếu tố nguy cơ:

–         Nguyên nhân : do trẻ bị suy thai trong tử cung, gây thải phân su vào nước ối và gây động tác hít vào trước sinh làm nước ối có phân su tràn vào đường hô hấp

Sự tống xuất phân su trước sinh có thể liên quan đến tình trạng stress của thai nhi trong tử cung như: nhiễm trùng, chuyển dạ sinh khó, dây rốn bị chèn ép… gây thiếu oxy cho thai, kích thích thần kinh phó giao cảm làm tăng hoạt động ruột, giãn cơ vòng hậu môn và tống xuất phân su vào dịch ối quanh thai. Thai nhi bình thường cũng có hiện tượng tống xuất phân su trong tử cung hay trong quá trình sinh, biểu hiện sự trưởng thành của đường tiêu hóa.

Trong tử cung, dịch ối đi ra đi vào đến khí quản của thai nhi (phần trên của đường hô hấp), khi thai nhi có động tác thở trong tử cung hay lúc vừa mới sinh sẽ hít ối phân su vào trong phổi, động tác thở này xảy ra khi có tình trạng thiếu oxy như nhiễm trùng hay dây rốn bị chèn ép…

–         Các yếu tố nguy cơ bao gồm:

+ Sinh khó, chuyển dạ kéo dài

+ Thai đủ tháng hay già tháng (> 41 tuần). Sinh non không là yếu tố nguy cơ của MAS. MAS hiếm khi xảy ra ở trẻ < 4 tuần tuổi thai.

+ Chèn ép dây rốn.

+ Thai chậm phát triển trong tử cung.

+  Mẹ hút thuốc lá nhiều, đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh phổi mãn tính, bệnh tim…

  1. 2.     Triệu chứng :

2.1            Lâm sàng:

–         Trước khi đẻ biểu hiện thai suy

–         Ngày sau đẻ:

+ trẻ suy hô hấp nặng

+ Da, móng tay dính nước ối lẫn phân su và trong miệng đầy nước ối lẫn phân su, có thể thấy cả trong dịch dạ dày do trẻ nuốt vào

+ Nghe phổi có nhiều ran ứ đọng, đôi khi không thấy có thông khí

+ Trẻ dễ bị toan máu, nhịp tim nhanh, nhỏ, trẻ sẽ chết nếu không được xử trí kịp thời

2.2            Cận lâm sàng:

+ XQ tim phổi : nhu mô phổi thông khí không đều, có nhiều nốt mờ tập trung ưor vùng rốn phỏi, xen kẽ những vùng phổi tăng sáng do ứ khí bít tắc. Có thể thấy các vùng xẹp phổi thường gặp ở thùy bên phổi phải.

+ Khí máu : tình trạng toan chuyển hóa mất bù

+ CRP tăng do phản ứng viêm

+ Xét nghiệm tìm tinh thể phân su trong nước tiểu ngay sau đẻ giúp ta chẩn đoán xác định

  1. Điều trị : phải cấp cứu ngay trên bàn đẻ

–         Hút sạch nước ối, phân su vùng mũi họng

–         Đặt nội khí quản, hút dịch nội khí quản rồi bóp bóng có O2 100%. Sau đó chuyển đến cơ sở hồi sức sơ sinh :

+ Thở máy với tần số cao

+ Kết hợp vỗ rung

+ Cho kháng sinh

+ Chống toan máu

+ Điều trị hỗ trợ : Oxyt nito (NO), liệu pháp thay thế surfactant

+ Đảm bảo dinh dưỡng và thân nhiệt của trẻ

  1. 4.     Hậu quả :

–         Tắc nghẽn đường thở:

Khi được hít vào phổi, ối phân su tạo thành các nút bít tắc đường dẫn khí hoàn toàn dẫn đến xẹp phổi, nếu bít tắc một phần sẽ tạo thành van một chiều hay bẫy khí (khi hít vào đường thở mở rộng ra cho khí đi vào nhưng lại xẹp xuống trong khi thở ra do các nút ối phân su, làm gia tăng kháng lực thì thở ra, khí bị “nhốt” lại trong các phế nang), điều này làm các phế nang căng phồng quá mức và có thể gây tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất hay tràn khí màng ngoài tim.

–         Bất hoạt surfactant:

Các thành phần trong phân su đặc biệt là các acid béo tự do như: palmytic, stearic, oleic, có diện tích bề mặt nhỏ hơn các phân tử surfactant nên lấp đầy lên bề mặt trong lòng các phế nang, chiếm chỗ của chất này, dẫn đến xẹp phổi lan tỏa. Phân su còn có thể ức chế sự tổng hợp surfactant.

–         Viêm phổi hóa học:

Muối mật, các enzym và chất béo trong phân su sẽ gây kích ứng đường dẫn khí và mô mềm của phổi, gây phóng thích các cytokine như TNF-, các interleukin… làm viêm phổi lan tỏa, điều này có thể xảy ra vài giờ sau hít ối phân su.

Tuy phân su vô trùng nhưng sự hiện diện của nó trong đường thở dễ làm bội nhiễm vi trùng và gây viêm phổi nhiễm trùng.

–          Cao áp phổi tồn tại ở trẻ sơ sinh:

Đây là biến chứng xa của MAS, có thể là nguyên phát hay thứ phát do tình trạng stress lâu ngày trong tử cung hay do co mạch máu phổi và dày thành mạch máu phổi.

Tình trạng cao áp phổi cũng góp phần gây thiếu oxy cho trẻ hít ối phân su.

  1. 5.     Phòng ngừa :

Những thai kỳ có nguy cơ cao như: chậm tăng trưởng trong tử cung, thai già tháng, mẹ tiền sản giật, cao huyết áp, bệnh tim phổi mãn… cần được theo dõi kỹ trong thai kỳ và trong khi sinh.

Khi thấy ra nước ối có màu xanh đậm, sản phụ cần báo ngay cho bác sĩ để được theo dõi sát nhịp tim thai, tình trạng suy thai, từ đó có những biện pháp can thiệp sớm để tránh các tai biến.

Tuy hít ối phân su ở trẻ sơ sinh là tai biến đáng sợ cho các ông bố bà mẹ nhưng phần lớn các trường hợp là không nghiêm trọng. Việc theo dõi cẩn thận và điều trị kịp thời sẽ giúp hạn chế tình trạng nặng cũng như những di chứng về sau.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s